TÌM KIẾM

Phụ nữ mang thai có nên điều trị ung thư?

Hẳn rất nhiều chị em phụ nữ đặc biệt là những người đã có tiền sử ung thư thắc mắc về ảnh hưởng của ung thư tới thai nhi. Vậy phương pháp điều trị ung thư có ảnh hưởng tới em bé hay không? Bài viết sau đây sẽ giải đáp mọi thắc mắc của các mẹ.

Ung thư xuất hiện trong quá trình mang thai thường gặp ở những người trẻ và cả những người lớn tuổi, chủ yếu là ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư tuyến giáp, ung thư máu thể Hodgkin lymphoma, Non-Hodgkin lymphoma, ung thư da hắc tố, khối u lá nuôi thai.

150327142022
Phụ nữ mang thai có nên điều trị ung thư?

Trong đó, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất trong các ca mang thai xuất hiện ung thư với tỉ lệ 1/3.000 thai phụ. Bệnh thường phát hiện muộn do ngực có sự thay đổi lớn trong quá trình mang thai.

Tuy nhiên, ung thư khi mang thai thường phát hiện muộn do lẫn với rất nhiều triệu chứng của ốm nghén, bao gồm: buồn nôn, nôn, đầy bụng, chảy máu trực tràng, mệt mỏi đều là những biểu hiện thường gặp của thai nghén.

Tổ chức ung thư IRISH khuyến cáo rằng phụ nữ không nên mang thai trong thời gian điều trị hóa trị do ảnh hưởng xấu của hóa trị lên thai nhi. Các bác sĩ cũng khuyên phụ nữ không nên mang thai sau khi kết thúc điều trị trong 2 năm vì nguy cơ đứa trẻ bị dị tật hoặc xảy thai cao.

Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp như người mẹ phát hiện mắc ung thư khi đã mang thai hoặc vô tình để có thai sau khi kết thúc hóa trị không lâu.

Nhưng các mẹ cũng đừng quá lo lắng, bởi phụ nữ mang thai có thể điều trị ung thư mặc dù phải phụ thuộc vào một số yếu tố như loại ung thư đó là gì, đã lây lan đến đâu rồi, mẹ đang mang thai giai đoạn thư mấy và sức khỏe tổng thể của mẹ.

Phụ nư mang thai có thể điều trị hóa trị, xạ trị, phẫu thuật hoặc một hình thức điều trị khác theo hướng dẫn của bác sĩ hoặc bệnh viện. Tuy nhiên vào 3 tháng cuối thai kỳ thì đây là điều không thể.

ung thu
Phụ nữ mang thai có nên điều trị ung thư?

Theo ICS - một tổ chức chuyên nghiên cứu các vấn đề về y tế khuyên rằng các mẹ nhờ đến sự giúp đỡ của các bác sĩ trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào.

Tổ chức này cũng cho biết rằng có thể trì hoãn quá trình trị liệu đến khi đứa bé ra đời. Trong một số trường hợp có thể tiến hành điều trị trong khi mang thai mà em bé sinh ra sau nãy vẫn khỏe mạnh. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào tình hình sức khỏe của người mẹ.

Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS) ở Anh cũng khuyên phụ nữ không nên mang thai trong quá trình điều trị vì thuốc hóa trị rất có hại cho thai nhi. Nếu các mẹ biết mình mang thai trước khi tiến hành điều trị hoặc trong khi điều trị thì nên báo với bác sĩ ngay lập tức. Các bác sĩ sẽ thảo luận những lợi ích và rủi ro của việc hóa trị với mẹ.

Nhờ sự hợp tác và tiến bộ liên ngành trong các nghiên cứu ung thư và sơ sinh, việc loại bỏ các thai nhi dưới 20 tuần tuổi khi các mẹ phát hiện bị mắc ung thư đã được chấm dứt. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ phóng xạ trong tia X dùng chẩn đoán ung thư có nguy cơ gây hại cực ít đối với thai nhi. Chụp CT sử dụng phóng xạ liều cao hơn chụp X-quang nhưng mức độ chính xác sẽ cao hơn, và rất hữu ích trong việc giúp phát hiện di căn. Tuy nhiên, các chất phóng xạ sẽ không gây ảnh hưởng gì đến mẹ và bé khi đặt lên bụng thai phụ 1 lá chắn chì trong quá trình chiếu chụp.

Riêng MRIs và siêu âm hoàn toàn an toàn đối với 2 mẹ con bởi không có phóng xạ. Các xét nghiệm lấy máu, sinh thiết cũng hoàn toàn an toàn đối với thai nhi. Tuy nhiên, trẻ tiếp xúc với hóa trị trước khi sinh có nhiều khả năng có các biến chứng, chẳng hạn như sinh ra nhỏ hơn hẳn trẻ con bình thường.

Một nghiên cứu năm 2015 tiến hành ở châu Âu đã kiểm tra tác động của điều trị ung thư đối với một nhóm hơn 200 trẻ. Trong đó có 96 trẻ được tiếp xúc với hóa trị liêu ( có thể kết hợp thêm với phương pháp điều trị khác), 11 trẻ xạ trị, 13 trẻ được tiến hành phẫu thuật, 2 trẻ được điều trị bằng thuốc và 14 trẻ không tham gia điều trị. Những đứa trẻ này đều có độ tuổi trung bình là 22 tháng.

Kết quả cho thấy rằng những trẻ không tiếp nhận điều trị hoàn toàn không bị chậm phát triển nhận thức cũng như có ảnh hưởng nào đến tim, hay sự phát triển khác của trẻ. Dù vậy, các bé vẫn cần phải được theo dõi và đưa đi khám sức khỏe định kỳ.

Thư Nguyễn

Theo GĐVN

Loading...